Quê hương mỗi người chỉ một- Như là chỉ một Mẹ thôi- Quê hương nếu ai không nhớ- Sẽ không lớn nổi thành người

Thứ Sáu, ngày 19 tháng 6 năm 2015

KHUẤT NGUYÊN VỚI SỰ TÍCH TẾT ĐOAN NGỌ



Khuất Nguyên (340-278 TrCN) là nhân vật lỗi lạc thời cổ đại Trung Hoa cả về cuộc đời, nhân cách và nghệ thuật thơ ca. Ông là danh nhân văn hóa thế giới (1953).
Tên thật là Bình. Ông là quan đại phu của nước Sở (tỉnh Hồ Nam). Xuất thân từ dòng dõi vương tộc nhưng đã sa sút từ đời cha, gần hàng thứ dân. Sử gia Tư Mã Thiên nhận xét “Khuất Nguyên học rộng nhớ nhiều, sáng suốt về chính trị, thông thạo về hiến lệnh” Ông sớm được vua Sở trọng dụng, cân nhắc lên hàng lương đống của triều đình (chức Tả tư đồ, dưới Lệnh doãn – Tể tướng). Đối nội, Khuất Nguyên chủ trương cải cách xã hội bằng những biện pháp nhằm hạn chế đặc quyền của bọn đại quý tộc, chủ trương “cân nhắc người hiền, trao quyền cho người có tài năng”; đối ngoại, chủ trương liên Tề chống Tần. Khuất Nguyên bị đả kích kịch liệt vì điều đó mâu thuẫn với đường lối quyền lợi của bọn đại thần.
                                             
 KHUẤT NGUYÊN
Thuở đó - thời Chiến quốc, tình trạng xâu xé nhau  giữa 6 nướcTần, Sở, Tề, Ngụy, Hàn, Yên đã đi đến chỗ quyết định. Sở từ chỗ cường thịnh đi đến chỗ bại vong, nguy cơ bị Tần thôn tính. Dao động, bất lực và ngu muội, nghe theo lời xúc xiểm của bọn nịnh thần gian tham Tử Lan, Ngận Thượng và sủng cơ Trịng Tụ bị quân thù mua chuộc mà phản bội, lại mắc mưu ly gián của bọn gián điệp Trương Nghi, Sở Hoài vương dần dần bỏ rơi Khuất Nguyên, cách chức Tả tư đồ, thậm chí còn đày ông  đi Hán Bắc (298 TrCN). Sau đó, được gọi về. Nước Sở một phen nguy ngập. Khuất Nguyên chỉ rõ địch – ta, thù-bạn, hiền tài-gian đảng cùng phương cách cứu nước, do đó nước Sở tai qua nạn khỏi. Sau khi Sở Hoài vương bỏ mạng ở đất Tần bởi tình nguyện làm con tin, Khoảnh Tương vương lên nối ngôi. Tình hình chính trị Sở càng thối nát, suy yếu. Nghe lời xúi dục của Lệnh doãn Tử Lan, Ngận Thương, Tương vương đày ông về Giang Nam. Ông qua hồ Động Đình, vượt vùng sông Nguyên, sông Tương, đến mãi tận sông Mịch La. Khi nước Sở bị Tần diệt đúng như lời tiên tri của ông, tướng Tần là Bạch Khởi công phá kinh thành Sính của Sở. Đau xót quá, Khuất Nguyên uất ức buộc đá vào cổ dìm mình xuống sông Mịch  La, mong lấy cái chết thức tỉnh triều đình và dân chúng. Đó là trưa (ngọ) ngày 5-5 âl năm 278 TrCN.
Về sau, để tưởng nhớ một vị đại thần và nhà thơ yêu nước trung trinh, hàng năm cứ vào ngày 5-5-âl, toàn dân Trung Quốc tổ chức  ăn tết đặt tên là Tết Đoan Ngọ để tưởng niệm Khuất Nguyên. Ở tỉnh Hồ Nam trở thành một ngày hội thật sự : trống dong cờ mở đua thuyền vang rộn cả một quãng sông Mịch La nơi trước đây Khuất Nguyên trầm mình. Ở Việt Nam ngày đó ta cũng thờ cúng dưới cái tên Tết Đoan Ngọ, có nơi như miền Trung biến tướng thành Tết Giết Sâu Bọ tức là giết bọn quan lại sâu dân mọt nước..
  
 Tết Đoan Ngọ trên sông Mịch La
Về thơ ca, Khuất Nguyên có Ly Tao (1) (Nỗi buồn biệt ly) một trường ca gồm 372 câu. “Cửu chương” gồm 9 bài thơ ngắn. “Cửu ca” gồm 11 bài thơ ngắn trong tập Sở Từ  (Tiếng hát nước Sở), Thiên vấn (Hỏi trời) Với Ly Tao, Thiên vấn, Sở từ… bằng thơ ca của mình “chí ông sạch nên ông hay nói đến hoa thơm cỏ lạ, tính ông liêm nên dù chết ông cũng không chịu buông lỏng. Bị ngập trong bùn lầy, ông thoát ra khỏi chỗ nhơ đục, băng mình ra ngoài đám bụi trần, không để cho nó dây bẩn…” (Tư Mã Thiên - Sử ký). Tác phẩm thơ ca của người đã đưa Khuất Nguyên lên hàng đầu những nhà thơ Trung Quốc. Thành tựu huy hoàng đó là cuộc cách tân mạnh mẽ, xác lập một cách vững vàng nghệ thuật thơ ca trác việt thời cổ đại, làm khuôn mẫu cho người đời sau.

Khuất Nguyên để lại cho đời một giai thoại thú vị về  SAY - ĐỤC; TỈNH - TRONG
Chuyện kể rằng: nghe lời dèm pha của Cận Thượng cùng lũ gian thần, Sở vương nổi giận đuổi Khuất Nguyên ra khỏi vương triều. Khuất Nguyên, quần áo xốc xếch thất thểu đi bên bờ sông, thân thể khô đét, mặt mày phờ phạc. Ông vừa đi vừa hát, than khóc cho số phận bất hạnh của nước Sở nay mai. Những lời cay đắng khóc thương này đã nẩy sinh ra tập thơ Ly Tao bất hủ.
Chợt một ông lão đánh cá trông thấy, kêu lên:
- Có phải Tam lư Đại phu đó không ? Trời ơi ! Làm sao ra nông nỗi này?
Khuất Nguyên bi phẫn:
-  Đời đục cả, riêng một mình ta trong; mọi người say cả, chỉ mình ta tỉnh. Ta bị đuổi chỉ vì có thể.
Lão ngư phủ bàn góp:
- Thánh nhân xưa nay xử sự uyển chuyển không câu nệ, biết việc tùy thời. Có phải đời đục cả, sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục ngầu một thể; loài người say cả, sao ông không ăn cả men, húp cả bã cho say nốt ? Việc gì phải lo xa, nghĩ sâu để đến nỗi bị xua đuổi, thân tàn ma dại ?
Bị xúc phạm, Khuất Nguyên cãi:
- Tôi nghe mới gội đấu, tất phải chải mũ, mới tắm tất phải thay quần áo, có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch để cho vật dơ bẩn dính vào mình, chẳng thà nhày xuống sông Tương (1) vùi xác trong bụng cá, cớ chi đang trắng lôm lốp để vấy phải bùn nhơ ?
Ông lão đánh cá nghe xong tủm tỉm cười, quay thuyền chèo đi, hát bâng quơ:
Sông Tuơng nước chảy trong veo
Thì ta đem giặt sạch cái lèo mũ ta
Sông Tương nước đục phù sa
Thời ta lội xuống để mà rửa chân.
Hát xong, chèo đò đi thẳng, không ngoái cổ lại. Khuất nguyên lòng đầy cay đắng đứng sững nhìn theo (2)
*
Sau cái chết bi tráng của Khuất Nguyên, Tống Ngọc - nhà thơ đương thời làm bài phú nổi tiếng “Chiêu hồn”gọi hồn thầy mình hãy về dương gian đừng bơ vơ lạc lõng nơi đầu sông ngọn sóng. Về sau, trên 2.000 năm khi đi sứ qua Mịch La, sứ thần nhà thơ Nguyễn Du đã viết bài “Phản chiêu hồn” (Chống lại bài chiêu hồn) của Tống Ngọc. Tống Ngọc chiêu hồn Khuất Nguyên về, Nguyễn Du khuyến đừng về. Vì sao ? Bởi người đời sau ai ai cũng đều là Thượng Quan Ngận Thương, mặt đất đâu đâu cũng đều là sông Mịch La đầy cá rồng, thú dữ. Bọn  gian thần đứng ngồi như các bậc hiền giả, lên xe xuống ngựa, nói năng toàn là giọng đạo đức ông Cao ông Quỳ, che giấu vuốt nanh cùng nọc độc, nhưngg nhai xé thịt người ngọt xớt như đường. Hồn mà về chẳng có gì tốt đẹp nơi đây cả, cá sấu thuồng luồng không xơi thì lũ người thú kia cũng xâu xé…Nguyễn Du đã nhìn thấu cõi đời nhơ bẩn xấu xa, thối nát đâu đâu thời nào cũng đầy rẫy bọn tham quan ô lại độc ác, phản nước hại dân. Bài thơ là một kiệt tác giàu chất hiện thực phê phán và đầy tính nhân văn.
 
Phản Chiêu hồn
Hồn hề! Hồn hề! Hồn bất quy?
Đông tây nam bắc vô sở y.
Thướng thiên há địa giai bất khả,
Yên, Dĩnh[1] thành trung lai hà vi ?
Thành quách do thị, nhân dân phi,
Trần ai cổn cổn ô nhân y.
Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quỳ[2].
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di!
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.
Hồn hề! Hồn hề! Suất thử đạo
Tam Hoàng[3] chi hậu phi kỳ thì.
Tảo liễm tinh thần phản thái cực,
Thận vật tái phản linh nhân xi,
Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La[4],
Ngư long bất thực, sài hổ thực,
Hồn hề! Hồn hề! Nại hồn hà?
 Chống lại bài Chiêu hồn
Hồn ơi! Sao chẳng trở về?
Ðông tây nam bắc chở che chốn nào?
Dù đất thấp trời cao chẳng ổn,
Yên, Dĩnh đành lạc lõng như nhau.
Thành đây, dân cũ còn đâu,
Bụi đời mù mịt dơ màu áo xưa.
Ra xe đưa, vào ngồi chễm chệ,
Bàn bạc xem ra vẻ hiền thần.
Vuốt nanh, nọc độc chứa ngầm,
Thịt người cắn xé như đường nuốt ngon!
Hồ Nam kia thấy không trăm xóm,
Toàn những người gầy ốm xanh xao.
Hồn ơi! Lối ấy theo nhau,
Ðời Tam Hoàng trước lấy đâu hợp thời.
Thu tinh thần về nơi Thái cực,
Chớ về đây người chực mỉa mai.
Thượng quan thời buổi ai ai,
Khắp trên đất rộng sông dài: Mịch La!
Cá rồng nuốt, sói hùm tha,
Hồn ơi! Hồn hỡi! Hồn mà làm sao?
Nguyên tác và bản dịch bài thơ :

1. Yên thuộc đất Sở, Dĩnh (hay Sính) là kinh đô của Sở, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc.
2  Cao, Quỳ là hai vị quan giỏi đời Ngu Thuấn.
3  Có thuyết cho đây là ba vị vua Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế thời cổ đại.
4  Mịch La là khúc sông hợp lưu của hai sông Mịch và La, nay ở phía bắc huyện Tương Âm, tỉnh Hồ Nam, sau còn gọi là sông Khuất Đàm vì Khuất Nguyên tự trầm ở đấy.

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 5 năm 2015

KỶ NIỆM NGÀY PHẬT SINH


Nhân ngày kỷ niệm đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh lần thứ 2541,để tưởng nhớ đến đức Giáo Chủ của chúng ta, xin được nhắc lại vài nét về cuộc đời và sự giáo hóa của đức Phật.
Thứ nhất là về cuộc đời của đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni. Thứ hai là những đạo lý mà Ngài đã chứng nghiệm được sau khi từ bỏ lợi dưỡng dục lạc thế gian. Điểm sau cùng tôi muốn nêu lên là tinh thần tu hành của người Phật tử đối với đạo lý Phật dạy qua con đường Thiền.

 1. Cuộc đời của đức Phật:
Như chúng ta đều biết, đức Phật xuất thân là một vị Đông cung Thái tử, sống trong nhung lụa với tất cả những tiện nghi của một vị Hoàng đế. Nhưng Ngài không đành lòng hưởng thụ riêng cho mình nên đã từ bỏ tất cả, vượt thành xuất gia để tìm đường giải thoát cho bản thân và nhân loại.
Theo lịch sử vào ngày trăng tròn tháng tư tính theo âm lịch của chúng ta, nhưng theo Ấn Độ thì ngày trăng tròn tháng năm vào năm 543 trước Công Nguyên, tại thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm Tỳ Ni, Thái tử Tất Đạt Đa ra đời. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn thuộc dòng quý tộc Thích Ca, mẹ là Hoàng hậu Ma Da. Sau khi sanh Ngài được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời. Người em gái của bà là Ma Ha Ba Xà Ba Đề, tức bà Kiều Đàm Di nuôi dưỡng Ngài. Thái tử được nuôi dưỡng cưng chiều với tất cả tiện nghi cao nhất của một ông hoàng.
Một hôm nhân ngày đầu vụ mùa, vua quan đến vùng nông thôn làm lễ, cày những luống cày đầu tiên với ước nguyện nông dân được trúng vụ mùa, thu hoạch nhiều, đem lại no ấm cho toàn dân. Ngày này gọi là ngày lễ hạ điền. Thái tử Tất Đạt Đa cũng được theo vua cha đến dự lễ hạ điền. Lễ rất vui, mọi người ăn mặc đẹp đẽ, sang trọng. Các nông dân theo nghi thức của nhà nước đến đó dâng lễ đối với các bậc thần thánh tổ quốc và sau đó chuẩn bị cày những luống cày đầu tiên dưới sự chứng kiến của vua, các vị đại thần. Đây là ngày lễ hội rất lớn đối với toàn dân Ấn Độ thời bấy giờ.
Trong lúc mọi người đang nô đùa mừng lễ, Thái tử cũng rất vui nhưng khi thấy từng luống cày, từng thớ đất lật lên có những con trùng, con dế bị đứt làm hai làm ba, liền đó các loài chim ở rừng bay đến, giành nhau nuốt những con vật nhỏ kia. Rồi người thợ săn rình rập đâu đó, lắp cung tên sẵn sàng hạ thủ mấy con chim. Đồng thời trong khu rừng, những con hổ chực chờ để vồ lấy gã thợ săn. Thấy cả một chuỗi tranh giành, cấu xé của chúng sanh, Thái tử quá đau lòng nên sắc diện trở nên trầm tư buồn bã. Thành ra, thay vì dự lễ vui tươi như bao người thì Thái tử lại tìm một nơi yên lắng, ngồi suy tư bất động dưới bóng cây.
Đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngay từ thời bé thơ, đức Phật đã có những biểu hiện khác lạ so với mọi người bình thường ở thế gian. Năm 16 tuổi, Ngài vâng lệnh Phụ hoàng và Hoàng tộc kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La và sau
đó sanh ra một hoàng nam là La Hầu La. Theo sử của Phật giáo Đại thừa, Ngài vượt thành xuất gia năm 19 tuổi cho đến 30 tuổi thì thành đạo. Theo sử của Phật giáo Nguyên thủy, 29 tuổi Ngài mới xuất gia.
Thái tử xuất gia không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hết cuộc đời chán chường hay của người bần cùng nghèo đói, không còn gì để lại phía sau. Đây là sự từ khước của một ông Hoàng, giữa thời niên thiếu trong cảnh ấm no sung túc và thịnh vượng. Tại sao tôi nêu lên điều này? Vì nhiều người cho rằng người đi tu là những kẻ chán thế gian hoặc già nua không còn làm gì được nữa. Ở ngoài đời họ thua thiệt, thiếu thốn, nghèo khó… nói chung là những trường hợp thất chí, thất tình, không còn con đường nào để thoát thân ngoài con đường đi tu. Ở đây vị giáo chủ của chúng ta bỏ thành đi tu vào lúc tuổi thanh xuân với tất cả quyền uy, địa vị, lợi dưỡng, tiện nghi của bậc đế vương, chớ không như cái hiểu thông thường của người đời.
Làm ông hoàng chứng kiến tất cả những sự kiện hiện thực trong đời. Ngay từ thời bé thơ mà Ngài đã có một cái nhìn rất thiết thực về cuộc đời. Mặc dù vâng lệnh Phụ hoàng kế thừa và trưởng thành từ các nghi thức, nghi lễ của thế gian nhưng trong lòng Ngài lúc nào cũng canh cánh những sự kiện trước mắt mà Ngài chưa hài lòng. Ngài vẫn nhớ và thấy một cách tường tận những hiện thực trong cuộc đời là như vậy. Do đó, cuối cùng Ngài cắt đứt, từ giã Phụ hoàng, tất cả người thân để đi xuất gia. Với tấm lòng bao la rộng rãi, Ngài quyết tìm lối thoát hay một chân lý để giải quyết vấn đề sanh tử của kiếp người một cách rốt ráo.
Thái tử cùng Xa Nặc vượt thành, đến nơi bìa rừng Ngài cắt tóc, cởi trả vàng vòng châu báu trao lại cho người cận vệ với lời tự khắc, tự hứa: “Bao giờ tìm được đạo, chứng đạo ta mới trở lại. Ngươi hãy đem tất cả những vật này về trình với Phụ hoàng và thân quyến của ta”. Dứt khoát rồi Ngài bắt đầu cuộc đời kẻ hành khất, trong tay không có vật gì, sống khổ hạnh trong rừng trải dài sáu năm trường. Dưới cội Bồ-đề, Ngài tinh tấn siêng năng tột bực và đã thệ nguyện cả quyết rằng: “Nếu không đạt được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, dù thịt nát xương tan ta quyết không rời khỏi chỗ ngồi này”. Với lời thệ nguyện quả cảm như vậy, Thế Tôn đã giác ngộ hoàn toàn và thành tựu quả vị Phật.
Tôi vừa điểm qua vài nét về cuộc đời của đức Phật. Ngài cũng là con người, cũng có những ưu tư khoắc khoải, những nghi ngờ và cuối cùng Ngài đã tìm ra lối thoát. Trong đạo Phật tuyệt đối không có sự thần khải nào mà tất cả đều được thể nghiệm từ thực tế, với một ý chí mãnh liệt, kiên quyết nhất định sẽ thành công.

2. Giáo lý của đức Phật:
Đức Phật sau khi chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề, Ngài có đầy đủ tam minh: Một là túc mạng minh. Hai là thiên nhãn minh. Ba là lậu tận minh. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu qua ba minh này:
1. Túc mạng minh.
Trong kinh nói rằng “Tư tưởng của Ngài trở nên lắng dịu, tinh khiết, trong sạch, không còn tham ái và ô nhiễm, dễ điều phục, không lay chuyển và luôn tỉnh giác”. Những điều này không lạ nếu chúng ta có nghiên cứu đạo lý, có công phu tu
hành thì sẽ thấy rõ việc điều phục vọng tưởng, làm chủ những niệm lăng xăng là có thể thực hiện được. Bấy giờ tư tưởng hay những dấy niệm của chúng ta sẽ yên lắng dần dần. Cho nên biết đạo lý của Phật dạy là những điều hiện thực.
Tư tưởng yên lắng rồi, những dấy niệm ô nhiễm sẽ yếu thế, nó không còn đủ sức hấp dẫn, kéo lôi người tỉnh táo sáng suốt, làm chủ được mình. Lòng chúng ta yên dịu, cái sáng sẽ lớn mạnh trùm khắp. Bây giờ vọng tưởng còn là vấn đề, là đối tượng vì chúng ta chưa tỉnh, sơ hở từng phút giây nên bị nó kéo lôi. Chúng ta dễ bị mắc mứu, dễ chạy theo cái giả mà bỏ quên cái thật. Với người tu, từ những sự kiện, những lối mòn này mà chúng ta tìm ra lối thoát. Vị giáo chủ của chúng ta cũng đi con đường như vậy. Ngài là một con người, có dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn như tất cả chúng sanh. Ngài ưu tư nghi ngờ, khoắc khoải phấn đấu đến cùng, bao giờ đạt đạo mới thôi. Chúng ta cũng có phấn đấu, có siêng năng nhưng sáng siêng thì trưa lại biếng, sáng mạnh mẽ trưa lại yếu xìu, tối lại ngủ quên rồi lãng quên cả một đời.
Muốn điều phục được những lăng xăng điên loạn, bắt buộc chúng ta phải tỉnh. Có tỉnh thì có tuệ, tỉnh tuệ không rời nhau. Nếu không có tỉnh thì không làm sao có tuệ sáng suốt. Bản thân chúng ta đang hít thở, tất cả giác quan đang tiếp xúc với mọi hiện tượng chung quanh rất bén nhạy, phải ngay nơi đó tỉnh lấy thì không tan thân mất mạng, bằng ngược lại ba cõi sáu đường mở ra cuốn hút chúng ta đi ngay. Kinh nghiệm tu thiền cho thấy, việc làm này từ xưa tới giờ không khác. Người xưa làm được chúng ta cũng làm được. Người xưa phấn đấu thành công, chúng ta phấn đấu tích cực nhất định cũng sẽ thành công.
Đức Phật hướng tâm vào tuệ giác, nhớ lại những kiếp quá khứ. Ngài đã tỉnh thuần thục nên mới hướng tâm tuệ về niệm quá khứ. Nhớ lại một kiếp, hai kiếp cho đến trăm ngàn kiếp. Trong số kiếp vô lượng đó Ngài tên gì, sinh trưởng trong gia đình nào, giai cấp nào, vui thích và khổ đau như thế nào, chết tái sinh ở đâu v.v.. Ngài nhớ lại tất cả. Đây là giai đoạn Ngài đã phá tan lớp vô minh quá khứ, chứng được túc mạng minh.
Bây giờ chúng ta tu hành, ngồi yên, dứt tất cả những nghĩ tưởng lăng xăng, tỉnh và tuệ cụ thể, sáng suốt trùm khắp, hướng tâm tuệ này về những gì đã qua thì nhất định sẽ biết. Những người ngoại đạo thời đức Phật, cũng do công phu thiền định mà họ có thể nhớ lại mười kiếp hay hai mươi kiếp của bản thân và những chúng sanh có liên quan đến họ. Ngoại đạo mà còn có năng lực như vậy huống là chúng ta áp dụng đúng những kinh nghiệm Phật dạy thì nhất định sẽ thành công. Nói thế không phải để chúng ta chuộng thích thần thông, mà để biết rằng mình tu hành có thể thành công và kết quả tất yếu là sẽ đạt được những năng lực như vậy. Việc ấy không khó khăn, mà khó khăn là do chúng ta không siêng năng liên tục.
2. Thiên nhãn minh:
Ngài hướng tâm thanh tịnh về tri giác hiện tượng sinh và diệt của muôn loài. Chính ngay nơi đây Ngài chứng được thiên nhãn minh. Đây là trí tuệ siêu phàm, thấy được tất cả chúng sinh chết từ nơi đây sẽ tái sinh vào đâu, với bao nhiêu cảnh tượng sang hèn đẹp xấu, khổ vui… tùy thuộc vào hành vi tạo tác của
mỗi người. Nếu tư tưởng hành động xấu ác, không chân chánh thì sau khi chết sẽ tái sinh vào những trạng thái khổ não.
Trong đời sống nếu chúng ta hướng những hành vi, tạo tác hằng ngày theo hướng tốt thì sẽ sống trong niệm chân chánh. Được như vậy, khi chết chúng ta sẽ tái sinh vào thế giới an lạc. Bởi vì khổ vui được hình thành từ luật nhân quả. Muốn được vui, muốn tương lai không khổ thì bây giờ phải đi con đường chân chính, không xấu ác. Hành trì như vậy bảo đảm tương lai, sau khi chết ta sẽ tái sinh vào thế giới không có khổ đau hay ít khổ đau, được an vui. Học biết như vậy rồi Phật tử khỏi cầu nguyện. Quả thực vui hay khổ là tự nơi hành động của mình ngay hiện đời thôi.
Nếu muốn tương lai tốt đẹp thì bây giờ phải phấn đấu trong chánh niệm, trong tinh thần tốt đẹp. Ngay bây giờ mình không làm chủ, hướng niệm hành động theo con đường xấu ác, tạo nghiệp nhân không tốt thì dù có cầu nguyện bao nhiêu đi nữa quả báo chắc chắn cũng sẽ khổ. Hiểu thế chúng ta vững lòng tu, vững lòng làm những việc công đức, vì biết chắc rằng từ những việc làm tốt ta sẽ có quả báo tương ưng.
Trên đời này, ở đâu con người không tin nhân quả nữa thì sự khổ đau sẽ dẫy đầy. Sở dĩ khổ đau giảm bớt, con người có thăng hoa, xã hội còn hướng tốt đẹp là nhờ con người còn tin vào tương lai, tin vào khả năng của chính mình. Dù hiện tại như thế nào nhưng với trí tuệ, năng lực và kinh nghiệm sẵn có, chúng ta sẽ gầy dựng được tương lai tốt đẹp. Mặc dù hiện tại khổ đau nhưng tin chắc tu hành như vậy ta sẽ được an lạc. Vững tâm quyết chí tích cực tu thì nhất định là an lạc lớn lao, thành tựu tốt đẹp sẽ đến với chúng ta.
Tư tưởng, hành động tốt đẹp, chân chính là sống trong chánh kiến. Người sống trong chánh kiến sẽ được hạnh phúc. Ngược lại nếu chúng ta không hướng thiện, không sống nếp chánh kiến, bị va chạm nhiều rồi quên mình đối với những hiện tượng chung quanh thì tương lai chắc chắn sẽ khổ đau. Đây là điều mà Phật tử phải sợ. Sợ đây không phải sợ ma sợ quỷ, sợ hết cơm, hết gạo, sợ mất người thương… những tâm trạng sợ hãi của người thế gian. Sợ đây là sợ ta không đủ tỉnh lực, không quyết tâm, không tin vào hành động của mình có thể chuyển hóa được khổ vui. Sợ là sợ như vậy. Tuy sợ nhưng chúng ta không hoàn toàn bất lực. Càng sợ thì càng kiên tâm, quả quyết thực hiện theo tinh thần của Phật dạy. Chúng ta quyết tâm hành trì theo những phương thức ấy để khắc phục những gì hiện tại ta chưa vừa lòng. Công đức đó, thành tựu đó là do ta mà thành, chính chúng ta làm, chúng ta thực hiện chứ không nhờ vả ở đâu.
Khi đức Phật mục kích rõ ràng sự phân tán, sự cấu hợp trở lại của chúng sinh, thấy rõ chúng sanh chết đi và tái sinh trở lại nơi nào, Ngài phá tan được lớp vô minh có liên quan đến tương lai, chứng được thiên nhãn minh.
3. Lậu tận minh:
Hướng tâm thanh tịnh về nguồn gốc và con đường chấm dứt các pháp trầm luân, giai đoạn này Ngài chứng được lậu tận minh. Từ đây đức Phật phá sạch tất cả sự tăm tối, thấu suốt tận căn để vì sao chúng sanh trầm luân trong sanh tử và tìm ra con đường để giải thoát sanh tử. Lịch sử nói vào canh ba đêm thứ 49, Bồ-tát
Tất Đạt Đa hoàn toàn giải quyết được việc sinh tử, việc lớn của chính mình và của chúng sanh. Ngài không còn nghi ngờ gì nữa, vì trí giác đã hoàn toàn thông suốt. Thế Tôn giác ngộ viên mãn.
Chúng ta và chúng sanh hiện diện trong thời điểm này, nhưng không biết mình từ đâu lại và chết sẽ đi về đâu. Tại sao chúng ta có mặt ở đây? Tại sao chúng ta phải như vậy? Có vô lượng những vấn đề mình không làm sao biết tường tận được. Có người vất vả cả đời mà không đạt được sở nguyện của mình. Người đó sinh ra, lớn lên, lập gia đình với tất cả tâm nguyện là muốn được nhà lầu, xe hơi v.v.. nhưng cả đời không thực hiện được. Trái lại có những người mới sinh ra, lớn lên đã đầy đủ tiện nghi, thực hiện công việc nào cũng thành tựu dễ dàng, dường như ở đâu sẵn dâng đến cho họ vậy. Đây là những điều ngay trong cuộc sống, chúng ta đối diện mà không biết không hay, không giải quyết được.
Bây giờ qua đạo lý của Phật dạy, chúng ta học và hành trì sẽ là chìa khóa hé mở cánh cửa giải quyết những vấn đề ấy. Nếu công phu mãnh liệt chúng ta có thể phá vỡ những thành trì ấy, thấy rõ nguồn gốc mọi gút mắc và sẽ giải quyết xong vấn đề lớn lao của con người. Cánh cửa, thành trì đó vị giáo chủ của chúng ta và vô lượng bậc Đại thánh đã phá được.
Như đã nói đức Phật chứng được thiên nhãn minh, thấy rõ sự chết đi và tái sinh của các chúng sanh. Đây là một điều lý thú. Bởi vì đối với những điều ta tăm tối, bây giờ mở ra được thì rõ ràng rất lý thú. Nhà Phật gọi đây là tuệ giác thấy tột cùng nguyên nhân sanh tử. Người tu Phật với tâm nguyện làm chủ được sanh tử, giải quyết sanh tử là vấn đề trọng yếu nhất. Sở dĩ sanh làm khổ mình, tử làm khổ mình, cuộc sống này làm khổ mình vì chúng ta chưa đủ trí tuệ, chưa làm chủ được mình. Nên tâm nguyện duy nhất của người tu là giải quyết vấn đề sanh tử của chính mình.
Nếu chúng ta giải quyết được việc sanh tử của mình thì cũng có thể thấy được việc sanh tử của vô lượng chúng sanh, không lầm không nghi nữa. Trong kinh có ghi: “Đây là phiền não, đây là nguyên nhân dẫn đến phiền não, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt phiền não”, đức Phật thấy rõ ràng như thế. Bao giờ chúng ta quay lại, thấy được những gì như đức Phật đã thấy là mình hết phiền não.
Chúng ta thật không có giây phút nào yên. Trong đời này có nhiều sự kiện ngộ lắm, người ta cười mà ra nước mắt, khóc mà vui. Có những điều mình nghĩ như vậy mà miệng phải nói khác đi. Thật lạ lùng! Là người tu chúng ta phải làm sao thấy rõ “Đây là sự bất ổn trong tôi, đây là sự chấm dứt những bất ổn trong tôi, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt những sự bất ổn trong tôi” thấy rõ ràng như thấy một vật trong lòng bàn tay của mình. Người thấy như vậy là người có trí tuệ thông suốt.
Nếu chúng ta biết áp dụng cụ thể lời Phật dạy, không phải thông hết tam tạng giáo điển mà chỉ một pháp nào đó thôi. Như Phật dạy đếm hơi thở sẽ cắt đứt những niệm tưởng lăng xăng. Chỉ bảo đếm hơi thở chớ không tu pháp gì cả. Nếu áp dụng phương pháp đếm hơi thở với một tuệ giác thấy rõ: “Đây là những lăng xăng loạn tưởng trong tôi, sự chấm dứt những lăng xăng loạn tưởng trong tôi và
những phương thức chấm dứt những lăng xăng loạn tưởng trong tôi”. Thấy rõ ràng như vậy thì không ai dại gì sống với cái lăng xăng mà quên cái tỉnh sáng của mình. Hướng tu hành của chúng ta là vậy.
“Đây là ô nhiễm, đây là sự chấm dứt ô nhiễm, đây là con đường chấm dứt ô nhiễm”. Tôi dẫn lời này để thấy một việc làm bình thường chúng ta có thể thực hành được, chớ không phải quá khó. Đừng bao giờ mang tư tưởng rằng đạo lý ấy, tuệ giác ấy, quả chứng ấy là của Phật, Bồ-tát chứ mình không có phần, không dính dáng gì hết. Không phải như vậy! Phật nói pháp để chúng sanh tiếp thu và thể nghiệm, chớ đâu phải nói cho chúng ta không tu được. Phật hiểu rõ là bản thân chúng sanh sẽ đạt được kết quả nếu ứng dụng tu tập đúng pháp mới nói chứ!
Tôi tin rằng Phật còn tại thế, Ngài cũng không ngồi nói như chư Tăng bây giờ. Lời Phật rất giản dị, có khi là sự biểu trưng qua một hình ảnh nào thôi, nhưng khiến người đương thời nhận hiểu xuyên qua trực giác bản thân của người đó. Như thế pháp Phật dạy, biểu trưng do Phật thể hiện mới có giá trị, có tác dụng nâng đỡ, giúp con người hết khổ được vui.
Tâm Phật đã giải thoát khỏi những dục lậu tức là hết mọi nhiễm ô dục vọng. Hữu lậu là những ô nhiễm của sự luyến ái thế gian, vô minh lậu là những ô nhiễm của vô minh. Màng vô minh giải tỏa, trí tuệ phát ra, đêm tối đã tan, ánh sáng lại đến, Ngài thành đạo. Từ bản thân thể nghiệm, trải qua quá trình tu chứng, đức Phật mạnh dạn chỉ dạy lại cho chúng ta, vì Ngài biết mình cũng có những khả năng như thế. Ngài phá tan màng vô minh tăm tối, vén lên được chân trời tỏ rạng cho chính bản thân mình và tất cả chúng sanh. Như vậy rõ ràng cái tăm tối trong tâm thức chúng ta hiện nay có phương thức giải trừ, phiền não đang âm ỉ trong ta có thể bỏ được. Đạo lý giải thoát đức Phật dạy chúng ta có thể thực hiện được.
Thế nên chúng ta hãy vững niềm tin phấn đấu, vươn lên để đạt được sở nguyện giải thoát sanh tử, chấm dứt khổ đau. Khổ theo cái nhìn của đạo Phật không phải là thiếu ăn thiếu mặc mà khổ là bị còng trói bởi những tiện nghi dục lạc, những hiện tượng điên đảo. Đây là cái khổ thống thiết, nếu chúng ta không tỉnh sáng để thoát ra thì không cách gì cởi mở, cắt đứt được. Nêu lên cuộc đời và giáo lý của đức Phật là chúng tôi hy vọng tất cả chúng ta cũng sẽ thực hiện được như vậy.
Tôi xin dẫn câu chuyện “Phật là ai?” như thế này. Có một vị theo Bà La Môn giáo, ở Ấn Độ Bà La Môn giáo là quốc giáo, vị này tên là Dona. Nhân đi qua đường, thấy trên đất in lại những dấu chân của đức Phật rất đặc biệt. Ông tìm đến hỏi Phật:
- Thưa Ngài, phải chăng Ngài là một vị trời?
Phật trả lời:
- Không, ta không phải là một vị trời.
- Vậy phải chăng Ngài là một nhạc công ở cõi trời?
Phật trả lời:
- Ta cũng không phải là nhạc công ở cõi trời.
- Ngài là quỷ Saka(1) chăng?
- Không, ta không phải là quỷ Saka.
- Như vậy Ngài là người chăng?
- Không, quả thật ta cũng không phải là người.
- Vậy xin cho biết Ngài là ai?
Đức Phật trả lời:
- Ta là người đã tận diệt hết những pháp trầm luân, những nguyên nhân để tái sinh vào ba cõi.
Nói tóm lại, đức Phật là người đã tận diệt hết những nguyên nhân đi trong ba cõi sáu đường. Vì thế nên hỏi làm trời Ngài phủ nhận, làm người Ngài cũng phủ nhận… Bởi vì Ngài đã giải thoát ra ngoài những hình thức đó.
Qua đạo lý này chúng ta mới thấy cái siêu việt của đạo Phật. Nó chỉ rõ nguyên nhân của những sự kiện, những pháp đã hình thành như thế, như thế. Và sau cùng đức Phật đưa ra con đường để thoát khỏi những sự kiện đó. Bởi thế nên nói Như Lai đã vượt ngoài Tam giới.
Có lời kệ như thế này:
Như hoa sen đẹp và dễ thương,
Không ô nhiễm bùn nhơ nước đục,
Giữa đám bụi trần ta không vướng chút bợn nhơ,
Như vậy ta là Phật.
Giác ngộ toàn triệt và giải thoát tất cả. Cuối cùng Ngài trả lời cho chúng ta như vậy. Như đóa sen đang nở và ngát hương thơm, đóa sen không bị nhiễm ô bởi nước đục bùn nhơ. Giữa đám bụi trần ta không vướng chút bợn nhơ, nghĩa là sống giữa bụi trần ai mà không vướng chút bợn nhơ nào hết. Như vậy ta là Phật, giác ngộ toàn triệt, gỡ tung những mắc mứu lâu nay, giải thoát hoàn toàn. Đó là điểm thứ hai chúng tôi nêu lên về đạo lý mà vị giáo chủ của chúng ta đã thực hiện được.

3. Tinh thần tu hành của người Phật tử đối với đạo lý Phật dạy qua con đường Thiền.
Người tu thiền cũng giống như người học bơi lội. Người học bơi lội được huấn luyện viên chỉ về phương pháp và kỹ thuật căn bản, sau đó hoàn toàn tùy thuộc y. Nếu như y không chịu nhảy xuống nước tập bơi thì y không bao giờ bơi được. Cách học duy nhất là y phải nhảy xuống nước và bắt đầu thực hành theo lời huấn luyện viên đã dạy. Nếu y chăm chỉ thực hành thì y có thể trở thành tay bơi cừ khôi. Nếu chỉ học hiểu mà không thực hành thì làm sao trở thành tay bơi cừ khôi được?
Lời dạy này bình thường mà rất hiện thực. Chúng ta muốn được giác ngộ, muốn được thành Phật hay được hết khổ thì phải tu, phải thực hành. Học hiểu là một giai đoạn không thể thiếu, nhưng hành trì là một giai đoạn quyết định sự học hiểu của chúng ta. Đường lối trong thiền tông cũng vậy, nếu chúng ta muốn được giác ngộ thì phải tìm đến ông thầy để lãnh hội lời chỉ giáo. Sau khi nhận được sự chỉ giáo rồi, quan trọng nhất là phải thực hành. Qua thực hành chúng ta mới có thể giác ngộ. Thực hành là việc của chính bản thân mỗi người.
Chúng ta có duyên gặp được thầy, có kinh điển, có tất cả những trợ duyên cần thiết để làm thành kinh nghiệm cho mình. Tuy nhiên bản thân chúng ta không thực hành, chỉ hiểu biết rồi đọc tụng rao giảng, chưa thể nghiệm thực đối với giáo
lý Phật dạy, đối với pháp thiền thì chúng ta chưa thể có cái nhìn thấu suốt được. Đối với pháp tu thiền đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn thấu suốt và thể nghiệm thật. Nếu muốn hết khổ, được giải thoát, có trí tuệ thì phải thực hành.
Phật dạy là tất cả chúng ta đều có khả năng thành Phật. Liệu mình có tin một cách khẳng định như vậy chưa? Đây là điều chúng tôi nêu lên để khẳng định cho pháp tu, sự hành trì và công phu của chúng ta. Đức Phật cũng là người, máu Ngài cũng đỏ, nước mắt cũng mặn, thân và tâm Ngài cũng không khác ta xa lắm. Trước lúc giác ngộ, Ngài cũng có những ưu tư, xung đột và nghi ngờ. Song nhờ trí tuệ mà Ngài tự đào luyện và khám phá ra Phật tánh của mình và được giác ngộ. Tất cả chúng ta cũng có khả năng, có chất liệu đó nhưng liệu xem ta đã quyết tâm phấn đấu chưa? Đây là những điều cụ thể mà ta không thể nào cất trong tủ khóa kín lại, mong một ngày nào đó có vị thánh thần đến ban cho mình được thành Phật, được giác ngộ.
Là người con Phật, ngày kỷ niệm này tuy cách chúng ta hơn hai ngàn năm trăm năm nhưng lời dạy và sự thể nghiệm của Ngài còn đó. Nếu chúng ta chịu làm chịu thể nghiệm thì kết quả y nhiên như vậy. Chúng ta chịu mở cửa phát huy hướng đến tâm tuệ, nhận khả năng giác ngộ của mình một cách cụ thể chính xác thì việc thực hiện được sẽ đạt kết quả không nghi.
Trong đạo Phật rất dè dặt đối với những cái gọi là siêu nghiệm, thần thông. Vì thần thông có khi nó làm mờ đi trí giác. Ở đây chỉ muốn nói những cái gì hiện thực trong đời sống của chúng ta. Được sống trong hoàn cảnh này chúng ta chỉ cố gắng tu thôi. Tu nghĩa là sửa, những gì còn xấu dở chúng ta loại bỏ nó ra, buông nó đi. Ai chịu sửa là người đó biết tu. Nếu mình còn cố chấp chưa chịu bỏ cái dở là chưa chịu tu, dù hình thức bề ngoài đẹp thế nào mà bên trong chưa trừ bỏ các chủng tử nghiệp xấu cũng chưa phải là tu.

Lời cuối cùng tôi xin gởi đến quí vị, tất cả chúng ta là con của Phật, quí kính Phật trong ngày kỷ niệm trọng đại này,dâng lòng thành cúng dường Tam bảo, với tâm nguyện kiên quyết làm theo lời Phật dạy, bằng cách sửa bỏ những gì không hay. Nỗ lực phát huy định tỉnh để được sáng suốt, thấy rõ phiền não, sự chấm dứt của phiền não, sáng suốt thấy rõ những hiện tượng chung quanh, những dây mơ rễ má, những gì không thật đeo bám quanh ta mà gỡ bỏ hết đi. Chúng ta nhận hiểu thấu đáo lời dạy của đức Phật để thực hiện giác ngộ được như Ngài. Đó là người Phật tử biết tu chân chánh.

Thứ Năm, ngày 21 tháng 5 năm 2015

NGÀY SINH BÁC VÀ LÁ SỐ TỬ VI


Đã qua đi ngày 19 tháng 5 năm 2015, cái ngày mà cả nước tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ sứng dáng được tri ân như vậy  nhưng có điều chắc chắn ở nơi cõi Phật người không hài lòng vì chúng ta đã đi ngược quá xa với di chúc của Người.
Thời gian sẽ trả lại cho Lịch sử tất cả những gì thuộc về nó. Bài viết này tôi đọc và đưa về đây như một thông tin chia sẻ để mọi người cùng tham khảo và suy ngẫm



Ngày 19/5 cách đây 74 năm một tổ chức tên không hề lạ là Việt Minh đã ra đời tại Pác Bó Cao Bằng, song cho đến nay chẳng mấy ai chú ý tới cái ngày thành lập tổ chức này, tuy vậy không phải vì thế mà ngày  19/5 bị lãng quên mà nó đã trở nên quá quen thuộc với người Việt Nam với ý nghĩa là ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh.  Liệu rằng đây có phải là một sự  trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử giống như ngày mất của ông trùng với ngày quốc khánh?  Khi nói về cái ngẫu nhiên thường người ta bỏ qua luôn lý do xuất hiện của nó vì đơn giản nó xảy ra một cách "không cố ý" tuy nhiên lịch sử lại chưa đầy những hành động có chủ ý của con người. Và một trong những chủ ý như thế của Hồ Chí Minh đã tạo ra một "ngày sinh nhân tạo" cho  mình.

Sinh nhật chính trị
Sẽ là không ngoa chút nào  khi nói ngày sinh nhật 19/5 của chủ tịch Hồ Chí Minh là là sinh nhật chính trị vì nó tạo ra hoàn toàn vì mục đích chính trị.

Bây giờ chúng ta quay về thời điểm lịch sử xung quanh tháng 5/1946. Vào ngày  6/3/1946 Hồ Chí Minh cùng Jean Sainteny đã ký kết hiệp định sơ bộ Pháp-Việt. Theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương  và trong khối  Liên Hiệp Pháp. Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc để giải giáp quân đội Nhật . Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Chính vì thế mà nó bị các đảng phái khác ra sức công kích dữ dội xem nó là "Hiệp ước bán nước" khiến ông Hồ phải đứng ra thề trước quốc dân đồng bào trong một cuộc mit tinh ở Nhà hát lớn: “Hồ Chí Minh không bán nước!”  Những diễn biến này đặt ông trước những tình thế nhạy cảm tiếp theo.

Sau Hiệp định Sơ bộ, quân Pháp bắt đầu vào miền Bắc và sớm gây sự. Quân Tưởng rút dần nhưng chậm. Cao ủy Pháp D’Argenlieu đề nghị gặp Hồ Chí Minh trên Vịnh Hạ Long. Cuộc gặp gỡ đi đến các thỏa thuận: Mở cuộc đàm phán trù bị ở Đà Lạt. Khi trù bị kết thúc sẽ mở đàm phán chính thức ở Paris. Phía Pháp đồng ý mời một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang thăm Pháp. Cùng dịp này, Chính phủ Pháp mời Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với danh nghĩa thượng khách của nước Pháp. Đây là cơ hội lớn để đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ dư luận Pháp, tranh thủ đấu tranh về vấn đề Việt Nam trực tiếp với Chính phủ Pháp, tránh giáp mặt với thực dân Pháp ở Đông Dương.

Trong lúc Hồ Chí Minh  chuẩn bị chuyến đi thì Cao ủy  Pháp D'Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14/5/1946.  D'Argenlieu đến Vientiane ngày 17/5/1946, đến Hà Nội  chiều ngày 18/5/1946. Trên danh nghĩa, D'Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại Đông Dương. Việt Nam là một quốc gia trong Liên Bang Đông Dương nên theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp cao ủy, phía  Việt Nam phải treo quốc kỳ trong ba ngày để đón D'Argenlieu.  Dư luận trong  nước thì vẫn còn đang sôi sục vì Pháp đã chiếm lại Nam Bộ, quả này mà dân thấy treo cờ ra với lý do chào đón "toàn quyền"  thì thể nào "bọn  phản động" cũng  có cớ sẽ làm rùm beng lên công kích chính phủ Việt Minh bán nước cho mà xem :D. Đúng là một bài toán khó cho ông Hồ và các đồng chí của mình.

Quân đội Pháp thì muốn tổ chức lễ đón D'Argenlieu thật long trọng để phô trương thanh thế và khẳng định sự quay trở lại của Pháp. Họ mời  Hồ Chí Minh tới dự vào ngày 19/5/1946. Ngày 18 sau khi nhận được giấy mời ông Hồ liền cử bộ trưởng Phan Anh tới dự và sau đó yêu cầu thư ký Vũ Đình Huỳnh mời các lãnh đạo trong chính phủ và các đoàn thể tới Bắc Bộ Phủ dự lễ sinh nhật mình vào ngày hôm sau. Theo Hồi ký  "Tháng tám cờ bay" của Vũ Đình Huỳnh có đoạn:

“Khi tôi báo tin về ngày sinh của Bác, mọi người cằn nhằn sao nước đến chân mới nhảy. Anh Trường Chinh nói rằng tôi đã biết ngày sinh của Bác mà không nói trước. Tôi thưa lại: Bác vừa bảo thì tôi đến đây ngay”.

Chi tiết này  cho thấy ngày sinh nhật đùng một cái được đẻ ra này chắc đến 100% là sinh nhật giả. Vì đâu mà ông Hồ lại sinh khéo thế  đúng vào dịp có "việc phải xử lý". Hôm sau, cả Hà Nội bừng lên màu cờ, biểu ngữ chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tối 19/5, lễ mừng chính thức được tổ chức trọng thể tại Bắc Bộ Phủ. Không khí tưng bừng, quan khách tấp nập. Các đoàn thiếu nhi gõ trống ca vang trong phủ. Trong không khí rộn ràng đó, Cao ủy D’Argenlieu và Ủy viên Cộng hòa Sainteny mang hoa đến "chúc mừng sinh nhật Hồ chủ tịch".

Hiệu quả của  việc lựa chọn ngày sinh cho mình của Hồ Chí Minh đã giúp ông đi một nước cờ ngoại giao có ý nghĩa cả về mặt đối nội và đối ngoại.  Đối với dân chúng ông đã tìm được một lý do để treo cờ "đón giặc Pháp" là để mừng thọ “cha già dân tộc” mà họ không hề nghi ngờ gì về mục đích của nó, điều ấy cũng tạo thêm hậu thuẫn cho bản thân ông  và Việt Minh, giúp đo được sự ủng hộ của dân chúng đối với mình, cũng như kiềng mặt các đảng phái đối lập. Đối với các đồng chí là cơ hội biểu dương lực lượng, cho họ được chào mừng ngày thành lập Việt Minh.  Còn đối với Pháp ông đã đảo ngược thế cờ, đổi vị thế chủ và khách với phía Pháp, tránh không đến dự buổi lễ phía Pháp tổ chức mà lại kéo hai đại diện chính của nước Pháp đến chào mình,  nói theo kiểu vẫn thấy trong phim Tàu là "hạ thấp oai phong của địch nâng cao uy  thế của ta", tạo bước đệm tốt cho chuyến thăm của ông sang Pháp sắp tới.  Nói chung là một mũi tên trúng nhiều con chim và từ sau sự kiện đó thì ngày 19/5 được chính thức hóa trở thành ngày sinh Hồ Chí Minh.

Tự vẽ rồng
Từ những dữ kiện trên có đủ kết luận là ngày 19/5 thực tế là một ngày sinh nhật chính trị, vậy còn những dữ kiện nào khác về ngày sinh Hồ Chí Minh đã được biết tới trong các hồ sơ lưu trữ?



Căn cứ theo lá thư Nguyễn Tất Thành tại Marseille ngày 15/9/1911 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris  lấy từ cuốn  Ho Chi Minh: A Life của William J.Duiker  thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành, Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc. 

Theo Jacques Dalloz trong cuốn " Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale " ( Người Việt trong hội tam điểm thuộc địa ) thì trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15/2/1895.  

Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15/2/1895 ( trùng với ngày khai ở trên ).  Hộ chiếu Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28/4/1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.

Còn theo sử gia  Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp có một tờ khai tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chí Minh lại  khai là sinh ngày 15/01/1894.

Cũng theo ông này thì có một nguồn tin khác nữa là khai sinh của Hồ Chí Minh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894.

Trong cuốn truyện "những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" dưới bút danh Trần Dân Tiên ông Hồ đã nêu ra một triết lý:

"Một nhà họa sĩ vẽ giỏi không bao giờ vẽ nguyên cả một con rồng, mà vẽ con rồng khi ẩn, khi hiện giữa những đám mây".

 

Có lẽ ông đã vận dụng nguyên lý này để chỉ đạo các hành động và tư tưởng của mình nên đã chủ động tạo ra rất nhiều đám mây xung quanh bản thân mình cả trong điều kiện phải lẩn tránh sự theo dõi chú ý của kẻ thù cũng như xây dựng hình ảnh vị lãnh tụ tối cao trong dân chúng. Những cuốn truyện ông tự viết về mình với hình ảnh vị cha già, người đại diện của giai cấp cần lao với phong thái "bình dị cận nhân" dưới các bút danh khác nhau tôi thấy nó có thể xếp cùng loại với truyền thống  vẽ rồng thường thấy trong lịch sử Việt Nam đời xưa như việc Lý Công Uẩn muốn dời đô thì "phịa" ra chuyện thấy rồng bay lên ở thành Đại La, Nguyễn Trãi bôi mỡ lên lá theo chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" để kiến ăn theo hình chữ đõ, dân chúng thấy đó là điềm trời ứng như thiền sư Vạn Hạnh cho khắc bài sấm trên cây gạo bị sét đánh nói về việc nhà Lý thay nhà Tiền Lê. Hay như Lê Lợi "dựng" lên chuyện "trả gươm cho rùa" và nay chúng ta có  "Di tích lịch sử Hồ hoàn kiếm" đều nhằm tạo ra hình ảnh của các vị "chân mệnh thiên tử" có tư cách chính danh để cầm quyền, là những công cụ lối cuốn đám đông bằng sự sùng kính thần thánh của người làm chính trị trong một đất nước lạc hậu. Vậy cho nên đến tận bây giờ xung quanh ông vẫn là những đám mây huyền ảo. Người ta biết về ông không khác gì hơn biêt về một điệp viên.  Và quả thực cũng đúng như vậy. Qua sự sai khác giữa các thông tin trong các hồ sơ mà ông tự khai cho thấy từ khi còn rất sớm ông đã có ý thức "bảo mật thông tin" của một "điệp viên" khá rõ rệt.

Dữ liệu từ những ký ức
Dữ liệu mà một điệp viên tự khai thì độ tin cậy không thể cao vì mục đích của thông tin đó tự thân nó không phải cung cấp sự thật. Vì thế muốn biết ngày sinh thực của Hồ Chí Minh thì bắt buộc là phải có thao tác khai phá dữ liệu kiểu "data mining".  Phân tích  từ chính thông tin của ông lúc "sơ hở" so sánh các nguồn tư liệu khác nhau và tìm kiếm gián tiếp qua thông tin của những người thân cận với ông. Khi đi tìm dữ liệu về năm sinh của ông manh mối đầu tiên mà tôi phát hiện ra là một chi tiết khi ông trả lời phỏng vấn tạp chí "Ngọn lửa nhỏ" vào năm 1923 của Liên Xô:  

“Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe về những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng đều được coi là người Pháp – thể là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ngữ ấy” .

Theo thông tin từ cuốn "Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế" của Nguyễn Đắc Xuân, một người đã lần gặp gỡ, phỏng vấn và ghi âm rất nhiều lời kể của những người sống ở Huế có mối liên hệ với gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc cũng như bạn học cùng với Hồ Chí Minh ở trường Pháp Việt Đông Ba và quốc học Huế ngay sau thời điểm 1975 có xác nhận thời điểm gia đình ông Hồ chuyển đến Huế là khoảng thời điểm 1905. Trong cuốn đó cũng có phần trao đổi giữa ông Xuân và "nhân chứng"

Lời kể cụ Hồ Đắc Định (87 tuổi) - “Lúc cụ Hồ còn là câu học sinh Nguyễn Sinh Côn ở trường Đông Ba và trường Quốc Học tôi có biết nhưng ít khi gặp nhau chuyện trò. Tuy vậy, trong gia đình tôi thì không thể quên được người học sinh ấy. Bởi vì cuộc đời học vấn của cụ Hồ lúc ấy có liên quan đến ông anh tôi là thầy trợ Hồ Đắc Quỳnh. Trước đây mấy người cháu của tôi đi tập kết (Hồ Đắc Nga làm ở báo Độc Lập) gửi thư về bảo tôi viết chuyện ấy. Nhưng tôi không viết. Anh lạ gì người Huế mình có thói quen rất sợ mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ”. Bây giờ thì cụ Hồ đã mất gần mươi năm rồi, đối với anh là học trò cũ, tôi không thể từ chối được.Tôi kể anh nghe rồi anh coi chọn sử dụng được cái gì thì tuỳ ý anh. 

-“Lúc vào học trường Pháp Việt Đông Ba trình độ Pháp văn của anh Côn còn kém lắm. Từ điển rất hiếm và học sinh cũng chưa có thói quen tra Từ điển. Gặp chữ gì khó hiểu anh Côn cũng hỏi thầy. Một hôm mới vào lớp anh Côn thấy dòng chữ kẻ phía trên tấm bảng đen trước mặt, anh đứng dậy hỏi thầy:

- “République Francaise,Liberté-Égalité-Fraternité, nghĩa là gì, thưa thầy?”

Anh tôi- cụ Hồ Đắc Quỳnh - vốn là một học sinh thông minh, mới 23 tuổi đã đỗ Thành chung, tuy vậy anh cũng chưa hiểu hết câu tiêu ngữ này. République Francaise là nước cộng hoà Pháp nhiều người đã hiểu. Còn ba chữ kia thì sao? Vì tình trạng đất nước mình lúc đó không có những từ tương đương với những từ Pháp ấy. Cuối cùng anh tôi giở Từ điển ra xem và đọc nguyên văn bằng tiếng Pháp cho anh Côn và cả lớp đều nghe. Nghe xong anh Côn vẫn chưa thỏa mãn. Hết giờ anh Côn và một số học sinh đi theo yêu cầu thầy giáo giải nghĩa thêm bằng tiếng Việt nữa. Khi anh  hiểu mấy chữ ấy rồi thì anh rất thích thú. Anh nói với bạn bè anh sẽ học tiếng Pháp cho thật giỏi để hiểu được văn minh, lịch sử nước Pháp. Ngoài giờ học ở trường anh còn xin đi học cours du soir  (Lớp chiều) với thầy Ưng Dự (lớp học chiều ấy mở ngay ở ngã tư Trần Hưng Đạo-Phan Đăng Lưu ngày nay)" .

Nếu kết hợp lời kể này với điều "bộc bạch" của Hồ Chí Minh trong bài phỏng vấn ở trên ( tôi dùng chữ bộc bạch vì trong câu trả lời không có tính khai báo mà nó là chia sẻ về một ký ức thời niên thiếu, độ tin cậy cao hơn ) ta có thể thấy là thời điểm ông Hồ lần đầu nghe mấy chữ "Tự do, bình đẳng, bác ái" là khi ông khoảng 13 tuổi, và đó cũng là thời điểm đó không thể sớm hơn năm 1905 được ( nếu ông sinh năm 1890 thì lúc đó ông phải ít nhất là 15 tuổi chứ không phải trạc 13 tuổi ). Lấy 1905 trừ đi 13, chấp nhận sai số cộng trừ 1 thì năm sinh của ông sẽ rơi vào khoảng 1891 hoặc 1892.

Những cuốn hồi ký
 Khi nghiên cứu lịch sử ngoài các hồ sơ lưu trữ, các tư liệu được giải mật thì các cuốn hồi ký cũng là một nguồn tư liệu hết sức quan trọng. Trong số các cuốn hồi ký hot thì gần đây nhất là "Đèn cù" của Trần Đĩnh cũng có nhắc đến chi tiết về năm sinh của Hồ Chí Minh:


"Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890".

Điểm lưu ý trong đoạn trên là Trần Đĩnh khẳng định "có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng" vậy bằng chứng đó là gì? Chúng ta có thể tìm thấy một sự tương thích về mặt nội dung trong thông tin của Trần Đĩnh và thông  tin từ một người họ hàng  của Hồ Chí Minh là nhà văn Sơn Tùng.

Trong ký lục về buổi nói chuyện của Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo có đoạn:

" Thế kỷ 19, Bác Hồ sinh ra năm 1891, tôi nói đây là nói nghiên cứu từ gốc. Bây giờ nói Bác sinh năm 1890, nhưng tôi nghiên cứu tử vi của Bác thì Bác sinh năm 1891. Bác đi làm cách mạng, Bác khai 1890, nhiều người chúng ta khi đi học, đi hoạt động cũng khai bớt hoặc thêm tuổi như thế. Bác sinh năm 1891. 1895 Bác vào Huế, tuổi ta là 5 tuổi, tuổi bắt đầu có trí nhớ, tuổi mà người ta dễ nhớ nhất là tuổi này, tuổi lên 5 đến lên 10. Bác 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế khi ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi cuốn “Tất Đạt tự ngôn” là tháng 6-1950. Sau đó ít tháng thì cụ qua đời. Trong “Tất Đạt tự ngôn” thì cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ."

Ông Sơn Tùng có nhắc đến cả tử vi của Hồ Chí Minh như vậy thì ngoài chi tiết về năm sinh 1891 thì ông chắc chắn còn biết cả ngày tháng thâm chí là giờ sinh ( không biết thì không thể lập được là số tử vi ). Lá số tử vi này do ai lập? Ngay trong đoạn sau của bài nói chuyện trên cũng có đề cập thêm một lần nữa về lá số tử vi của Hồ Chí Minh qua lời kể của ông cả Khiêm trực tiếp kể cho ông ( Sơn Tùng ) nghe:

"Lúc đến chân Đèo Ngang, đường lúc đó có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Đến chân Đèo Ngang, có bãi cỏ rất bằng, mẹ bác mới đặt gánh xuống, cha bác xếp ô lại bảo: chỗ này phằng phiu, nghỉ lại đây ăn cơm nắm, để rồi leo đèo, Bác ngồi xuống thì ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi, mới hỏi cha:

 -Thưa cha, cái gì ở trên kia mà đỏ, lại ngoằn ngèo như rứa? Cha bác nói:

 Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên đó, lên cái đường mòn đó.

 Thế rồi chú Thành mới ứng khẩu luôn một bài thơ. Sau này bác ghi lại trong cuốn sách “Tất Đại tự ngôn” này:

 “Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng theo con
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con”

Nói về văn, thơ, tôi là anh thanh niên năm 1950 tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đại tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ viết lúc 5 tuổi thì tôi hơi sững sờ. Ông Khiêm nói tiếp:

 Lúc đó, cha bác mới mở cái ví vải lấy lá số tử vi của con ra xem, bác mới biết cha đã lấy tử vi cho các con. Cha bác nói với mẹ:

 Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn với ông ngoại đã nói như thế không nhầm.

Như  vậy là ông Nguyễn Sinh Sắc đã lập là số tử vi cho cậu con trai của mình. Điều này cũng không có gì là khó hiểu bởi Nguyễn Sinh Sắc vốn là bậc túc nho, nói đến Nho là nói đến "Tứ thư, ngũ kinh", trong mấy sách này "Dịch quán quần kinh chi thủ" đứng đầu bảng là Kinh Dịch vốn là cha đẻ của mệnh lý học. Từ cái gốc Dịch thì tỏa ra là các môn lý số khác như Tử vi, Thái Ất, Phong Thủy etc.., tầng lớp sĩ phu có danh vọng hồi xưa có lẽ ông nào cũng thông thạo Nho, Y, Lý,  Số cả. Cái tên chữ "Tất Thành" ông đặt cho con trai phải chăng là đã ước đoán được con đường của cậu con trai mình qua sơ đồ mệnh lý "Đa gian truân, hựu tất thành"?

Theo Thiếu Lăng Quân ( tên thật là Nguyễn Tài Tư , còn có một tên khác là Hồ Chí Trung  cũng là họ hàng gọi  Hồ Chí Minh  bằng bác, tác giả của "Ba mươi năm mong đợi Bác về tập hồi ký 400 trang viết tay chưa xuất bản" ) kể về  vế lá số Tử Vi của cậu bé Nguyễn Sinh Cung là:

"Cụ Nguyễn Sinh Sắc có lấy lá số Tử Vi ngay và  cụ Sắc cũng có đưa lá số này ra để giải đoán với các bạn bè như cụ Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý".

Sau này ông Khiêm cải táng mộ cho mẹ là bà Hoàng Thị Loan về núi Đại Huệ, người biết về Phong Thủy sẽ luận ra viễn án của ngôi mộ bà Loan là dãy núi Hồng Lĩnh như một đàn ngựa đang rong ruổi,  minh đường là dòng sông Lam vắt qua, tiền án là ngọn rú Dầu, phân tích này chứng tỏ là ông Khiêm cũng được truyền lại các kiến thức Phong Thủy từ cha mình và các bậc tiên nho khác.

Tư duy dịch lý phương đông
 Là một người có gốc cựu học vững vàng Hồ Chí Minh có lẽ còn giỏi lý số dịch học hơn cha và anh trai mình. "Dĩ bất biến ứng vạn biến"  là câu nói khá nổi tiếng mà ông dặn dò một nhà nho khác là Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đã khắc họa sâu sắc nguyên lý dịch học "Bất dịch, Biến dịch và Giản dịch". Ông cũng đã vận dụng điều này qua những phát biểu khác nhau, có nhiều cái bất biến được ông khẳng định như:


"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi".


"Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho được độc lập".

"Không có gì quý hơn độc lập tự do". 
 
Rõ ràng là với ông những khái niệm "Tự do, Độc lập, Thống nhất" ở trong ông là những khái niệm bất di "bất dịch", trong khi đó ông lại hết sức cơ mưu quyền biến, uyển chuyển  "biến dịch" trong sách lược chính trị ngoại giao cũng như cách ứng xử. Và đời sống sinh hoạt của ông thì vô cùng "đơn giản, cơ động" rất đậm chất "giản dịch", người ta vẫn hay nói về "sự giản dị của Bác Hồ" như một thói quen sinh hoạt mà ít đề cập tới rằng nó có thể là một triết lý sống hay là một thái độ triết học nữa . Trong tiếng Hán thì chữ giản dị và giản dịch là cùng một từ 簡易, trong câu văn Việt tùy theo context mà phiên âm ra là giản dị hay giản dịch . Vì đã đi khắp nơi, uống cả mực Tàu và mực Tây nên trong số đồ nghề ông sử dụng có đầy đủ các thể loại Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa và ông cũng không đề cao duy nhất một loại mực nào.  Ông thường làm những điều tưởng chừng như rất nghịch lý nhưng đem lại hiệu quả khá cao:

Dùng chủ nghĩa cộng sản làm phần mềm để xây dựng và tập hợp lực lượng nhưng lại customize nó bằng cách viết ra một cương lĩnh mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa khi  thành lập Đảng  cộng sản Đông Dương khiến ông bị các đồng chí của mình là Hà Huy Tập, Trần Phú phê phán gay gắt là "chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh" kéo theo việc ông bị mất ảnh hưởng trong đảng của mình thời gian sau đó. Tuy nhiên sau này nhờ vào đường lối dân tộc và bộ máy tổ chức kiểu cộng sản mà ông giành được mục tiêu của mình còn những người đã từng phê phán ông thì đều đi vào con đường thất bại và chết sớm.

Ông  trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền Pháp vào Tuyên ngôn độc lập Việt Nam  chứ không phải lời nói nào đó của Marx hay Lenine. Theo hồi ký "Con rồng An Nam" thì Hồ Chí Minh  nói với Bảo Đại là ông cho mấy lời đó vào để "làm đẹp lòng người Pháp và người Mỹ" , ông cũng có lần đề nghị Bảo Đại phục vị còn  ông sẽ đứng sau làm thủ tướng với lý do mà ông thổ lộ với Bảo Đại là  người Pháp, người Mỹ họ không tin ông vì "họ  thấy tôi quá đỏ" ông sẵn sàng lùi lại sau để phương Tây thấy chính phủ của ông "bớt đỏ đi" . Trước khi chết Bảo Đại còn trả lời nhà sử học trẻ Frédéric Mitterand  ( cháu của Tổng thống François Mitterand )  trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần  trong đó có đoạn:

Bảo Đại: "Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng"

Gửi thư cho cả 2 ông trùm của 2 phe thù địch là Truman và Stalin đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam .

Hợp tác với sĩ quan OSS của Mỹ và sau này là đi dây với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mâu thuẫn Xô-Trung cực kỳ gay gắt, hai ông lớn đều tranh nhau vị trí thống soái lãnh đạo cách mạng thế giới cùng muốn lôi kéo "thằng em út" nhưng ông Hồ đã không để bên nào lôi được mình sang hẳn một phe.

Về đối nội thì ông không thể hợp những người "đồng chí cộng sản" Trotskyist khác đường lối như Tạ Thu Thâu nhưng lại sẵn sàng sử dụng cựu đảng viên Quốc dân đảng như Nguyễn Bình làm tư lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang miền Nam. 

Trong buổi phỏng vấn ngày 25/6/1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés. Tạ Thu Thâu  là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt ).

Trong "Tứ trụ triều đình": Giáp, Duẩn, Đồng, Chinh thì hai người có vẻ thân thiết với ông hơn là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng đều là người của "Tân Việt cách mạng đảng" trước rồi thành đảng viên CS sau chứ không phải đi theo CS ngay từ đầu như các ông Trường Chinh và Lê Duẩn.

Ông có thể một phát phong ngay cho một anh giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp chưa từng qua trường lớp quân sự nào quân hàm đại tướng tổng tư lệnh trong khi sẵn sàng bỏ qua không cần dùng một anh "thừa tướng" đã từng trải qua "Hoàng Phố quân sự học hiệu" và "Vạn lý trường chinh" như  Nguyễn Sơn. Ông cũng đặt tên lại cho ông Võ-Nguyên Giáp là Văn, phải chẳng đó chính là vì ông muốn nhắc nhở vị tướng của mình một nguyên lý của Dịch là "Trong văn có võ, trong võ có văn", "trong quân sự có chính trị, trong chính trị có quân sự" và kẻ cầm quân không hiểu đạo lý này sẽ không thể thành tướng tài được.
Tất cả những việc ông làm đều cho thấy ông là người thực dụng không câu nệ hình thức, cái gì cũng có thể sử dụng được cốt sao được việc, cốt sao đạt được những mục tiêu bất biến của mình, và qua mỗi hành động đó đều có một nguyên lý nhất quán xuyên suốt mà ông cố gắng vận dụng và thực hành đó là " dung thông những cái trái khoáy, đối lập nhau, khai thác những ưu điểm của sự đối lập đó  theo khía cạnh có lợi nhất trên toàn cục thay vì độc tôn một mặt nào đó, loại bỏ cái cái còn lại". Những lời sau đây của ông có thể minh họa cho lập luận này: 

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Jesus có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jesus, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

Chính vì thế nên ông nói "đạo đức cách mạng" là  "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" cái này toàn là ngôn ngữ nho giáo từ học thuyết họ Khổng mà ra chứ không "tự mình sáng tạo" ra những thứ kiểu "làm chủ tập thể" như ông Lê Duẩn. Rồi cái khẩu hiệu "Độc lập- Tự Do- Hạnh Phúc" này chẳng phải đâu xa, vốn chính là "Dân tộc độc lập-Dân quyền tự do-Dân sinh hạnh phúc" mà ông đã "thuổng" nó từ "Chủ nghĩa Tam dân" của Tôn Trung Sơn đúng như tinh thần của đoạn văn trên.  
 Người  ta có thể lý giải cho những hành đông này của ông bắt nguồn từ phép biện chứng của chủ nghĩa Marx vì chính Engels đã từng nói "Everthing exists in pair"  ( mọi thứ tồn tại theo cặp ở thế lưỡng trị ) tuy nhiên theo tôi có lẽ nó bắt nguồn từ lối tư duy  "Lưỡng tại song hành" đẻ ra từ học thuyết âm dương thì đúng hơn, bởi phép biện chứng của Marx không nhấn mạnh rằng các mặt đối lập có chứa đựng các yếu tố của của mặt đối lập kia như học thuyết âm dương "Trong âm có dương và trong dương có âm" dù nó có đề cập đến việc chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.




Những dẫn chứng hơi dài dòng vừa rồi của tôi là để chứng minh một niềm tin là Hồ Chí Minh là người am tường dịch lý một cách sâu sắc và có vận dụng dịch học vào việc tạo ra sự nghiệp chính trị của mình. Điều này chưa từng đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu về ông do giới sử học trong và ngoài nước tiến hành, có lẽ bởi với hệ thống  lý luận XHCN thì dịch lý là sản phẩm  của chế độ phong kiến nên không thể đưa nó vào tài liệu nghiên cứu chính thống, còn với giới nghiên cứu phương Tây thì "học thuật của phương Đông"  không phải là thứ được đánh giá cao.

Nếu không thừa nhận điều này thì sẽ khá khó khăn trong việc lý giải tại sao Hồ Chí Minh có khả năng tiên đoán trước một số điều ( vốn đã được kiểm chứng bằng dữ liệu chính xác ) . Ở đây tôi xin trích ra một đoạn trong hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn hồi ký cũng từng gây xôn xao văn đàn và xã hội cả ảo lẫn thực.

Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài “Diễn ca lịch sử nước ta”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở Hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Stalin, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát-xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

 Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi.Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

‘Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?’

‘Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú.’ Ông Hồ trả lời như vậy”.

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các chú”.
 
Chi tiết nói về khả năng tiên đoán tương lai của Hồ Chí Minh không phải chỉ một mình Nguyễn Đăng Mạnh nhắc đến mà nó được nhiều người khác từng tiếp xúc với ông nhắc lại nhiều lần trên các phương tiện thông tin chính thống, chỉ có thông tin về việc ông Hồ nghiên cứu tử vi là thông tin mới. Dù rằng "môn dự đoán dựa trên dịch học" chưa được xác lập là một môn khoa học thực sự  bởi cái mã nguồn  của nó vẫn chưa được public để trở thành open source mọi  người cùng nghiên cứu nhưng có một thực tế là công chúng vẫn đã và đang thừa nhận năng lực này ở một số  nhân vật lịch sử  được tôn xưng là "Thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý, trung tri nhân sự, huyền cơ  tham tạo hóa" như Thiệu Ung ở Trung Quốc và Nguyễn Bình Khiêm ở Việt Nam.

Khác với Thiệu Ung chuyên tâm vào học thuật, chú trọng soạn thảo  các trước tác dịch học, Nguyễn Bỉnh Khiêm không để lại trước tác dịch học nào cả ( có một số tác phẩm được cho là của cụ nhưng chưa có bằng chứng xác thực, có thể người đời sau tạo ra mượn danh cụ để lấy uy ) nhưng ông lại được xem là người đã sắp xếp thế các thế lực chính trị tạo nên cục diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 qua việc "chỉ dẫn" cho các tập đoàn  Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn. Cũng có những ví dụ khác về những "trí thức cổ trang" có bản lĩnh  "chọc trời khuấy nước, khuynh đảo thiên hạ" là "bậc thầy của đế vương" từng dùng cái năng lực "thần cơ diệu toán" của mình can dự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lịch sử lập nên các triều đại kéo dài mấy trăm năm như  Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn mà học thuật của mấy đồng chí này không gì khác ngoài mấy món "Âm dương dịch lý, ngũ hành vật luận".

Bất kể ai xuất phát từ quan điểm chính trị nào mà nói đều phải thừa nhận rằng Hồ Chí Minh cũng là một nhân vật "hùng tài đại lược" có tầm ảnh hưởng  toàn cầu. Căn cứ vào những hệ quả mà ông tạo ra đối với lịch sử ( tôi không nói về việc nó là tiêu cực hay tích cực, cái này tùy quan điểm lập trường của các phe phái  theo các xu hướng chính trị khác nhau, tôi chỉ nói về mức độ sâu và rộng của ảnh hưởng đó )  thì bản lĩnh của ông so với các nhân vật đã nêu cũng không kém chút nào, thì không có gì là phi lý nếu cho rằng bản lĩnh ấy một phần bắt nguồn từ học vấn về dịch lý cũng như năng lực thực hành nó của ông.

Quay trở lại với chủ đề về ngày sinh,  tôi  đồng tình với kết luận của Giáo sư Trần Quốc Vượng qua lời kể của Nguyễn Đăng Mạnh,  vì như tôi như đã dẫn chứng ở trên, tôi tin rằng  Hồ Chí Minh có  căn bản dịch lý vững vàng và theo logic đó ông cũng  am hiểu tư vi,  tất nhiên ông là người biết rõ về ngày tháng năm sinh của mình, chỉ có điều ông không muốn người khác biết.  Song không phải là không ai biết thông tin đó. Ngoài những người trong gia đình ông Hồ thì trong giới nghiên cứu tử vi lý số Việt Nam nhiều người có biết những thông tin này. 

Giai thoại và thực tế
 Có một lần tôi đọc được đâu đó trên một trong các diễn đàn lý số mà người viết ( có lẽ đã cao tuổi và đang sống ở hải ngoại ) kể là ông được cụ Ba La,  người được xem là vua tử vi rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975 lấy tên làng Ba La-Hà Ðông  làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, vốn là sĩ phu thế hệ Cần Vương, Duy Tân sau khi thất bại chạy sang Tàu cụ Ba La sau lại về ngồi xem số ở chợ Hà Đông trước 1954  trực tiếp thuật  lại là:

"Nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy  ông Võ -Nguyễn Giáp  và ông Nguyễn - Hồ Chí Minh  vẫn tới chơi xem số “,  ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu, đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”.
 Không cần để tâm đến phán đoán của cụ Ba La thì cũng đã có dữ liệu củng cố thêm khả năng Hồ Chí Minh có nghiên cứu tử vi của chính mình để ứng dụng nó vào sự nghiệp  là rất cao và có lẽ ông đã khá thành công trong việc này.

Một lá tử vi  mẫu trong sách
  Vậy rốt cuộc thì Hồ Chí Minh sinh ngày nào và lá số tử vi của ông ra sao?
 Trong cuốn "Tử Vi Đẩu Số Tân Biên" của một nhân vật tên tuổi trong làng tử vi là Vân Đằng Thái Thứ Lang ở phần phụ lục có 4 lá số mẫu dành cho những người nghiên cứu học cách lập đoán trong đó có 2 lá số làm cho người ta chú ý bởi cách ám chỉ của tác giả. Dù không nói trắng ra nhưng những thông tin mà tác giả đưa ra dường như khẳng định 100% rằng đó là lá số của Bảo Đại và Hồ Chí Minh.  Thái Thứ Lang vốn là người cùng quê Nam Đàn với Hồ Chí Minh và cha của ông còn được cho là bạn của Nguyễn Sinh Sắc nên đó là lý do mà những người đọc sách này tin tưởng rằng nguồn tin của ông là chân thực. Ngoài ra còn một lý do nữa mà người ta tin vào thông tin của Thái Thứ Lang vì ông này là nhà sư, người xuất gia thì sẽ không phạm giới luật vọng ngôn, tức là ông sẽ nói những thông tin mà ông nghĩ trong đầu là đúng chứ không bịa đặt ( dù có thể điều ông ấy nghĩ chưa chắc đã đúng :D ) . 

 Đây là là số của Hồ Chí Minh do tôi chụp lại từ cuốn sách xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn này.



Theo những thông tin trên đó thì Hồ Chí Minh sinh vào giờ Mão ngày 6/6 (Âm Lịch ) năm Tân Mão ( 1891).

Lá số này có một số điểm khá tương hợp với  miêu tả của Thiếu Lăng Quân về băn khoăn của các ông Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý khi  họ luận đoan lá số của Nguyễn Sinh Cung rằng họ đều thừa nhận đây là lá số Tử Vi của một con người không bình thường,  song các ông không lý giải được vì sao với một con người an thủ Mệnh, Tài, Quan là các chính tinh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Liêm, Phá... như vậy mà Cung Điền trạch lại Vô chính diệu.

Thực tế sau này đã cho thấy  cho thấy Hồ Chí Minh uy quyền bao trùm thiên hạ mà trong tay lại không có tài sản gì, cung Điền Sản rất mờ nhạt thì có thể giải thích được băn khoăn ở trên.

Luận đoán thêm một chút là thấy cung Thân trùng với cung Thiên Di, lại  có phá quân thủ tọa đắc địa có vẻ ứng với cuộc đời suốt đời làm chuyện canh cải, bôn ba khắp năm châu bốn biển đầy sóng gió của ông Hồ nhưng ông đều vượt qua được.

Khả năng vượt khó của ông cũng thể hiện trong sự nghiệp chính trị của mình. Nếu  xem xét toàn bộ thế tam hợp của 3 cung: Mệnh, Tài, Quan  thì cái thế tam hợp này là thế lấn lướt tình thế.

Thế tam hợp trong Tử vi có 4 thế: Thế bình thuận, an hòa; Thế đối nghịch ; Thế bị lấn át và Thế lấn lướt ( hoàn cảnh ). Từ lý "Quan phương thập dụ" ( mười nguyên tắc căn bản khi luận đoán bản phương của lá số tử vi ) mà xét thì lá số này có bản phương  "Do nội tự cường" ( Mạnh từ bên trong, lực từ gốc rễ mà ra ) là thế của người bản lĩnh rất cao cường  luôn chủ động lấn lướt  mọi hoàn cảnh, tức là không phụ thuộc hoàn cảnh để nó khuất phục  mà còn có khả năng áp đặt hoàn cảnh…Ở trên có mấy ví dụ về cách ông Hồ ứng biến với tình thế hay nhìn thấy trước được cục diện chiến tranh.

Kết
 Đối với Tử vi mà nói thì cùng một lá số nhưng mỗi ông luận một kiểu tùy vào trình độ và cả trường phái nữa ( có rất nhiều cách xem, nhiều trường phái trong tử vi, đông phái nhất là ở Đài Loan ). Nhất là khi luận về mấy ông làm chính trị thì yếu tố tình cảm yêu ghét, sùng bái, hận thù các kiểu xen vào lại chi phối rất nhiều, và có nhiều cách luận giải khác thì lại chỉ ra những điểm không tương thích với vận mệnh của ông Hồ.  Cá nhân tôi thì tuy không khẳng định 100% nhưng đánh giá rằng thông tin về ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh là 6/6 âm lịch 1891 có độ chân thực với xác suất khá cao.

Dù vậy nếu có được thêm các dữ kiện đầy đủ hơn để có câu trả lời chính xác hơn nữa thì càng tốt, bởi tìm kiếm sự thật là nhu cầu vốn có của con người, thông tin về một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Hồ Chính Minh không đơn giản chỉ là ngày giờ ông đến với thế giới này mà nó còn liên quan đến rất nhiều sự kiện lịch sử khác trước đây và sau này nữa.

Chính vì lý do đó nên hôm nay tôi  viết bài này với mong muốn cung cấp thêm một số thông tin vốn dĩ chưa được hoặc ít được nhắc tới về Hồ Chí Minh xem như một thao tác xử lý ảnh "xóa mờ, khử nhiễu" bức  chân dung của ông để những ai có cùng mối quan tâm có thể thảo luận. Đây là một case study rất đắt giá. Hy vọng các bạn yêu thích nghiên cứu lịch sử hay lý số dịch học và tử vi sẽ cung cấp thêm cho tôi một số thông tin khác mà các bạn có, chẳng hạn như lá số được cho là của Hồ Chí Minh mà 2 ông Sơn Tùng và Thiếu Lăng Quân đang giữ. Tôi đã tìm thông tin liên lạc của họ trên mạng nhưng không tìm được để hỏi trực tiếp.



P/S: Đối với các bạn chưa tìm hiểu về dịch học và tử vi, các bạn có thể bỏ qua các các đoạn dẫn giải của tôi về các nội dung này, không cần focus nhiều vào chúng bởi các bộ môn này được xếp vào loại huyền học chứ không phải khoa học, nó có cách tư duy và phương pháp luận hoàn toàn khác với phương pháp luận của khoa học hiện đại.  Dưới con mắt của khoa học còn rất nhiều điều về các môn huyền học chưa được làm sáng tỏ. Dù sao với đại đa số mọi người mà nói thì chúng ta chỉ nên tin vào những thứ mà mình đã hiểu rõ và lấy nó làm căn cứ cho nhận thức của mình. Đối với cái ta chưa hiểu hãy xem nó có giá trị tham khảo. Ở đây là giá trị tham khảo hữu ích mà nó mang lại là có một logic dẫn đến dữ kiện về ngày sinh thực sự của Hồ Chí Minh, đó có thể là mối quan tâm chung của nhiều người .

Nguồn :  Ơ ĐÂY